Thứ Tư, 18 tháng 5, 2016

Về Cao Lãnh, thăm mộ Cụ Nguyễn Sinh Sắc.






Mộ của Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là phần quan trọng nhất của Khu di tích tọa lạc số 123/1, đường Phạm Hữu Lầu, thuộc phường 4, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Đây là nơi an nghỉ của Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (1862–1929), là một nhà nho yêu nước, và là thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Di tích được xếp hạng cấp Quốc gia ngày 9 tháng 4 năm1992.
Toàn khu lăng mộ được ốp bằng đá hoa cương. Ngôi mộ hình chữ nhật màu xám tro, yên vị trên nền bằng đá mài trắng, hình lục giác không đều mở rộng dần ra hai bên và phía trước. Vòm mộ hướng về phía Đông, là một cánh hoa sen cách điệu, có dáng dấp hình bàn tay xòe úp xuống, trên là 9 con rồng cách tân đậm nét dân gian, vươn ra trước thành 9 đầu hồi, tượng trưng cho hình ảnh nhân dân đồng bằng sông Cửu Long chở che, ôm ấp phần mộ. Trên mộ có một đỉnh trầm bằng đá Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng). Đặc biệt, tại đây có cây khế gần 300 tuổi  và cây sộp hơn 300 tuổi ở 2 bên Lăng mộ. Phía trước là hồ sen hình ngôi sao năm cánh, giữa hồ có đài sen trắng cách điệu cao 6,5 m, tượng trưng cho cuộc đời thanh bạch của Cụ Phó bảng.
Khu di tích còn có khu Đền thờ và tượng Cụ Sinh Sắc (tượng ngoài trời); Nhà trưng bày giới thiệu về cuộc đời của Cụ; Nhà sàn Bác Hồ bên ao cá phục dựng theo nguyên mẫu ở Hà Nội; Một phần của làng Hòa An xưa, phục dựng theo tỉ lệ 1/1, v.v...

Khu di tích là niềm tự hào của nhân dân Đồng Tháp. Hàng năm, tại đây, vào ngày 27 tháng 10 (âm lịch), Lễ giỗ Cụ được tổ chức rất trang nghiêm và ấm áp.

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2016

Hoa may



     
                            Cái hồi mười bảy, mười ba
                        Cái hồi đã biết la cà bờ đê
                            Hoa may dệt kín lối về
                       Dệt hồn ta tím một miền tuổi thơ
                          Để rồi cứ mãi niềm mơ

                      Triền đê thơm ngát một bờ cỏ may

Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2016

Ao Bà Om.

Ao bây giờ, Ảnh của VA




                              (Ao ngày trước, ảnh st)
Ao Bà Om
Đến Trà Vinh, ngoài những ngôi chùa Kh'mer cổ kính dưới bóng những hàng sao, dầu cổ thụ, du khách không thể không đến Ao Bà Om, một di tích lịch sử, văn hóa mang nhiều huyền thoại của thời cha ông khai phá, gầy dựng đất phương Nam.
Ao Bà Om cách thị xã Trà Vinh khoảng 5km về phía Tây Nam, trên địa bàn khóm 4, phường 8, thị xã Trà Vinh (trước đây là ấp Tà Cụ, xã Nguyệt Hóa, huyện Châu Thành). Ao rộng 100.000m2, trong đó mặt ao gần 43.000m2. Ao còn được gọi là ao Vuông vì nó có hình vuông. Xung quanh ao là những gò cát chông chênh với gần 500 gốc sao, dầu hàng trăm năm tuổi, có rễ trồi lên mặt đất thành những hình thù kỳ vĩ, đẹp mắt. Ao Bà Om đã là niềm tự hào của người dân Trà Vinh.
Ao Bà Om có những câu chuyện kể mang nhiều chi tiết siêu nhiên nhưng cũng rất gần gũi với người dân ĐBSCL, đặc biệt là với người Khmer ở vùng đất này.
Một trong những truyện dân gian kể rằng: ngày trước, vùng đất Trà Vinh hằng năm cứ đến mùa hạn thì nước ngọt rất khan hiếm. Ruộng rẫy khô cằn, cây cỏ vàng úa. Đời sống bà con vùng đất này lầm than khôn cùng. Một ông hoàng trấn nhậm trong vùng bèn quy tụ bà con lại để đào ao giữ nước ngọt. Cùng lúc đó, trong vùng xảy ra một vụ “tranh chấp” khó giải quyết: đàn ông và đàn bà, ai phải đi cưới ai? Ai phải chịu mọi phí tổn trong lễ cưới? Ông hoàng nhân dịp này chia ra hai bên nam nữ tổ chức một cuộc thi đào ao trong 1 đêm. Ao bên nào đào sâu hơn, lớn hơn và xong trước thì sẽ thắng cuộc, bên thua sẽ phải đi cưới. Trời vừa tắt nắng, hai bên chia nhau đào ao. Bên nam thì đào ao tròn ở phía Tây còn bên nữ đào ao vuông ở phía Đông. Bên nữ do bà Om chỉ huy, thấy không thể kình được sức đàn ông nên bên nữ dùng “kế”: Họ vừa đào vừa ca múa để các chàng bỏ việc mà chạy sang rình xem. Nửa đêm, bà Om cho chặt một cây tre thật dài, treo ngọn đèn lồng rồi đem cắm ở hướng Đông. Theo giao hẹn là khi sao Mai mọc là phải ngừng công việc, khi bên nam thấy ngọn đèn tưởng là sao Mai nên họ rủ nhau về nghỉ. Trong lúc đó bên nữ đào đến sáng và xong việc trước. Bên nam thua cuộc trong sự “tâm phục, khẩu phục”. Để nhớ ơn người phụ nữ mưu trí, người ta lấy tên bà đặt tên ao, từ đó ao phụ nữ đào được gọi là ao Bà Om. Sự tích này cũng đã được ghi lại trong “Nam Kì cố sự” của Nguyễn Hữu Hiếu sưu tầm, biên soạn, NXB Đồng Tháp, 1999.
Nhân vật Bà Om được tôn vinh là một người phụ nữ mưu trí, tài năng và bản lĩnh. Câu chuyện cũng thể hiện rất rõ phong tục Mẫu hệ của người Kh’mer.

Tuy nhiên, thật đáng buồn, năm nay hạn hạn nghiêm trọng nên Ao Bà Om cạn khô không có nước!

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2016

56 cái ngày sinh!








Vậy là nó đã làm "Các Cụ hưu" được 1 năm. Thế mà trước ngày tròn đầy năm, nó lại được Trường cho đi du ngoạn an dưỡng già một vòng 8 ngày dọc các tỉnh Nam bộ: Trà Vinh - Sóc Trăng - Kiên Giang- Cà Mau - Châu Đốc - Đồng Tháp rồi về Ninh Thuận. Chuyến đi thật vui và ý nghĩa, vừa là những nơi nó chưa từng đến vừa là cuộc hành trình của những anh chị em đã gắn bó với nhau 33 năm. Vì vậy mà chuyện vui như pháo nổ, đôi khi có chút ngậm ngùi khi nhớ về kỷ niệm!
Chuyến đi như bao chuyến đi nhưng lại đầy ắp tình bạn, ấm áp tình người!

Thứ Ba, 19 tháng 4, 2016

Củ tỏi của chị Sáu




“Má trồng toàn những cây dễ thương…”
Quả vậy! Vốn là dân cày ruộng nên ở đâu, chị Sáu (gọi tên thứ theo chồng) cũng mói cho được tí đất để trồng cây gì đó, nhất là loại ớt chỉ thiên. Do vậy, khi về Nam, chị từ chối rất nhiều căn nhà trên phố để cuối cùng nhận mảnh đất rộng rãi ở vùng ven. Thế là thỏa mãn bần cố nông cả anh Sáu lẫn chị Sáu. Anh thì bảo: “Trồng cho ba 2 cây xoài để ba mắc võng, với mấy cây mãng cầu dai nữa”. Còn chị Sáu thì, ngoài những loại rau ăn hàng ngày như ớt, tàng ô, cải, mồng tơi, cà chua, bồ ngót, bồ ngây,…chị trồng rất nhiều cây ăn trái: ổi, khế, xoài, chùm ruột, đu đủ, lựu, có cả mía nữa đấy. Mà thật lạ kỳ, bất cứ loại quả nào chị Sáu trồng cũng ngọt, lúc đầu là giống chua nhưng ra trái lần thứ 2 là trở nên ngọt. Ngày ấy, trái cây của nhà nó được các bạn ở trường phát nghiện. Mỗi lúc lên trường, nó lại được chị Sáu đùm cho một bịch, lủ khủ các loại trái chín, chị bảo: “mang lên cho mấy đứa”. Gần 40 năm rồi, giờ mấy đứa bạn vẫn nhắc: ổi, khế, xoài nhà mày ngon thật đấy!
Lúc quả chín nhiều quá, cho mọi người vẫn không hết, thế là chị Sáu theo hàng xóm túm cả làn ổi, khế xuống chợ bán. Chỉ cần thấy 2 bà đến cửa chợ là mọi người xúm vào mua nhoắng 1 cái hết nhẵn, ai đến trễ cứ tiếc hùi hụi, họ biết tiếng ổi, khế của 2 bà rồi mà.
Cây ổi lên cao thì phải dùng sào để khèo trái. Nhưng mà chị Sáu nhà ta, chẳng hiểu sao lại cứ thích trèo cây cơ. Thích vắt vẻo lắm. Hồi ấy, chị Sáu có mấy cái quần rộng lưng do bị rão thun. Nó bảo để luồn lại dây cho chị ấy nhưng cứ hay quên. Thế là chị Sáu có một giải pháp du kích rất lợi hại. Đó là, chị túm phần lưng thừa ấy, xoắn chặt rồi cuộn lại nhiều vòng thành 1 củ tỏi con con lận vào cạp quần. Có vẻ rất hiệu quả vì thấy củ tỏi ấy giữ rất chặt và đảm bảo lưng quần không hề bị xục xịch. Tuy nhiên, “thuyết tương đối” thì luôn đúng cho mọi trường hợp. Và đương nhiên, củ tỏi ấy cũng có ngày rơi vào quy luật. Lần ấy, chị Sáu đang thoăn thoắt trên các cành ổi xum xuê, củ tỏi buồn tình nên lỏng tay cương, từ từ, từ từ, từng vòng tròn cứ lặng thầm buông thả. Rồi điều gì đến phải đến thôi! Lưng được giải phóng, quần ta rơi tự do, và chủ nhân thì cứ vô tư hái ổi.
Chỉ có nó và chị Cả ở dưới gốc cây chết sặc vì cười.
Giờ nó vẫn nhớ mấy củ tỏi đủ các màu sắc ấy lắm!

Chẳng còn cây ổi nào để nó bắt chước chị Sáu lận củ tỏi con con nhỉ!

Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2016

Em!



Em giờ váy gấm, váy ren
Em giờ sườn xám, áo thun quần bò
“Yếm rách” chỉ còn trong thơ

Tóc dài cắt tém, ỡm ờ mắt ai!

Chính ủy bị đòn!



Nếu như bây giờ còn và còn trẻ thì trình độ đi xe máy của Cụ chắc cũng giống đi xe đạp thôi,rất chi là tệ! Ngồi xe Cò măng ca quen rồi nên đi xe đạp không vững, nếu chở Má thì kiểu gì cũng đánh ngã, vì vậy mà toàn là Má chở thôi. Đã vậy mà ngồi đằng sau cũng vẫn rơi xuống đất như thường, tài thật. Với Cụ, lực hút của trái đất hình như rất ưu ái. Ấy thế mà, mỗi lần từ Chiến trường B ra, vì Má bận việc nên Cụ tự đạp xe đi khắp các đội của Nông trường để đem thư cho các gia đình có người ở miền Nam hoặc gặp các cô chú để nói chuyện chiến trường. Bệnh Chính ủy nặng lắm. Lần nào về cũng báo cáo thành tích đo đường, ít thì 1 lần, nhiều thì 2,3 lần là chuyện bình thường. Cụ còn đạp xe ra tận Dốc Mật để về nhà Cụ Bột, nhà anh Thế mấy lần đấy.
Cụ rất thích ăn canh cá nấu chua. Tự mình đạp xe ra Bến Tắm mua cá về, rồi cha con hò hét nhau mổ những con cá to bằng bàn tay mà cứ như là mổ con bò, mất cả tiếng đồng hồ, rồi leo lên đường tàu xe lửa, chạy lên đồi tìm cây chua méo, hái đọt về nấu cá. Cụ cứ bảo: “Trong quê tao có lá giang, nấu cá ngon lắm!”. Mãi sau này về Nam nó mới được biết lá giang, mà đúng là ngon thật. Chả trách các cụ Miền Nam khi sống ở đất Bắc cứ nhớ nó. Như là nhớ quê nhà. Bây giờ thì “Lẩu gà lá giang” đang lên ngôi trong các nhà hàng.
Có một lần, Cụ cũng ra Bến tắm mua cá. Hôm ấy, Cụ lại diện cái áo sơ mi trắng bốp nữa chứ. Vừa tới cửa chợ gặp ngay vợ chồng nhà kia đang cãi nhau bằng tay và chân. Chẳng cần hỏi đầu đuôi, “giữa đường thấy việc bất bằng chẳng tha”, dựng phắt chiếc xe vào hàng rào, Cụ xông ngay vào giữa nhà họ. Chưa kịp can thì Cụ đã được hưởng nguyên cả cái lẫn nước một ống điếu cày dài cả cánh tay, to bằng ống chân. Kết quả là: cá không có con nào mà đầu thì có một quả ổi, toàn bộ chiếc áo trắng được vẽ kiểu hoa theo trường phái ấn tượng màu nước ống điếu thuốc lào cực chuẩn! Đẹp và thơm phết! Cũng may là gỡ gạc được một tí teo, đó là, vợ chồng nhà kia thấy thế vội vàng đình chiến và chạy tới hỏi han, xin lỗi Cụ rối rít rồi làm lành một cách rất trật tự.
Ôi Chính ủy! bom đạn của cả giặc Pháp lẫn giặc Mỹ mà còn tránh né Cụ, thế mà cái điếu cày này nó lại chẳng kiêng dè gì! Quá đáng!